Chi phí không có hóa đơn: khoản nào được trừ thuế TNDN

Công ty chế biến thủy sản mua tôm cá trực tiếp của mấy hộ đi biển ở Phú Mỹ. Xưởng cơ khí mua sắt vụn của người thu nhặt. Công ty thuê cái kho của một cá nhân. Cả ba trường hợp đều không có hóa đơn, và câu hỏi lúc quyết toán luôn là: khoản này có được trừ không?

Câu trả lời ngắn: có, nhưng theo một danh sách khép kín. Nghị định liệt kê đúng những trường hợp mua vào nào được dùng bảng kê thay hóa đơn, Thông tư quy định bộ hồ sơ kèm theo, và riêng việc thuê tài sản của cá nhân có hồ sơ riêng. Ngoài phạm vi đó, không có hóa đơn thì khoản chi bị loại, dù thực tế đã trả tiền thật.

Tóm tắt nhanh

  • Khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP đặt ba điều kiện cho một khoản chi được trừ: chi thực tế phát sinh liên quan đến sản xuất, kinh doanh; có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định; và có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt với giao dịch từng lần từ 05 triệu đồng trở lên.
  • Điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP liệt kê năm trường hợp mua vào không có hóa đơn vẫn được tính chi phí.
  • Hồ sơ cho năm trường hợp này gồm chứng từ chi trả tiền cho người bán và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn theo Mẫu số 02/TNDN ban hành kèm Thông tư 20/2026/TT-BTC.
  • Mua trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 05 triệu đồng trở lên thì phải thanh toán không dùng tiền mặt.
  • Ngưỡng chứng từ không dùng tiền mặt cho các khoản mua thông thường đã hạ xuống 05 triệu đồng mỗi lần, áp dụng từ 15/12/2025; mức cũ là 20 triệu đồng.
  • Điều kiện “người bán có doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế giá trị gia tăng” chỉ gắn với trường hợp thứ năm, không áp cho bốn trường hợp đầu.
  • Thuê tài sản của cá nhân có hồ sơ riêng: hợp đồng thuê và chứng từ trả tiền thuê, không cần hóa đơn. Riêng việc tiền thuê từng lần từ 05 triệu đồng trở lên phải trả không dùng tiền mặt là điều kiện chung của Nghị định, không nằm trong điều khoản về hồ sơ thuê tài sản.

Ba điều kiện chung của một khoản chi được trừ

Điểm c khoản 1 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 đặt yêu cầu gốc: khoản chi phải “có đủ hóa đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ”. Khoản 3 Điều 9 của Luật giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này và giao Bộ Tài chính quy định hồ sơ của khoản chi được tính vào chi phí được trừ tại điểm b, điểm c khoản 1.

Chính phủ quy định chi tiết tại Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025. Khoản 1 Điều 9 của Nghị định xếp lại thành ba điều kiện: điểm a là khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; điểm b là “khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật”; điểm c là “khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên”. Điểm c1 chặn thêm cách chia nhỏ: mua của một người bán nhiều lần trong cùng một ngày, mỗi lần dưới 05 triệu nhưng tổng từ 05 triệu đồng trở lên, thì cũng chỉ được trừ khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Cần tránh một cách đọc sai hay gặp. Danh sách từ b1 đến b12 ở điểm b khoản 1 Điều 9 của Luật — chi cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chi hỗ trợ tổ chức đảng, các khoản tài trợ, chi nghiên cứu khoa học, tổn thất do thiên tai, đóng góp quỹ… — không phải điều kiện áp cho mọi khoản chi. Đó là các khoản chi thực tế phát sinh khác được trừ thêm, và bản thân chúng vẫn phải đáp ứng điều kiện về hóa đơn, chứng từ. Khoản 2 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP mở đầu đúng như vậy: “Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản chi thực tế phát sinh khác đáp ứng đủ điều kiện tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, bao gồm:” rồi mới liệt kê nhóm đó.

Về mốc thời gian, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định phần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại điểm c khoản 1 Điều 9 — cùng với quy định về chuyển nhượng vốn tại điểm i khoản 3 Điều 12 — áp dụng từ ngày Nghị định có hiệu lực, tức từ 15/12/2025. Nói cách khác, khoản chi phát sinh trong năm 2025 nhưng trước 15/12/2025 vẫn theo mốc 20 triệu đồng cũ. Khoản 3 Điều 10 Thông tư 20/2026/TT-BTC nhắc lại đúng mốc này. Khoản 1 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP nói rõ hệ quả: khoản chi không đáp ứng đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 9 thì không được trừ.

Một lưu ý khi tra cứu: Luật 67/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi các Luật số 116/2025/QH15, 127/2025/QH15, 133/2025/QH15, 141/2025/QH15, 143/2025/QH15 và Luật số 09/2026/QH16, hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 113/VBHN-VPQH năm 2026; Nghị định 320/2025/NĐ-CP được Điều 2 Nghị định 141/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 15 Điều 4 và được Quyết định 517/QĐ-BTC ngày 20/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đính chính một số điểm ở Điều 20, Điều 23; cả hai đều đã hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 19/VBHN-BTC năm 2026. Đối chiếu hai bản hợp nhất này, nội dung Điều 9 của Luật và Điều 9 của Nghị định dẫn trong bài giữ nguyên.

Năm trường hợp mua không có hóa đơn vẫn được trừ

Điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP và điểm a khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC dùng chung một danh sách:

Trường hợp mua vàoĐiều kiện kèm theo
Sản phẩm nông, lâm, thủy sảnCủa người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra
Sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệpCủa người sản xuất thủ công trực tiếp bán ra
Phế liệuCủa người trực tiếp thu nhặt
Đồ dùng, tài sảnCủa hộ gia đình, cá nhân trực tiếp bán ra
Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ kinh doanh (không bao gồm bốn trường hợp trên)Người bán có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng

Hai chữ “trực tiếp” ở bốn dòng đầu là điều kiện, không phải cách nói cho đẹp. Mua cá của người đi biển về bán là trường hợp thứ nhất. Mua cùng loại cá đó qua một người đi gom hàng từ nhiều hộ rồi bán lại thì người bán là người kinh doanh thương mại, không phải người đánh bắt, nên không còn nằm trong dòng này. Khi đó phải xét theo dòng cuối cùng của bảng, và điều kiện lại là doanh thu của người bán.

Cũng cần đọc đúng chỗ đặt điều kiện: cụm “có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng” chỉ gắn với dòng thứ năm. Bốn dòng đầu không kèm bất kỳ điều kiện doanh thu nào.

Một thay đổi dễ bỏ sót với người quen danh sách cũ: điểm 2.4 khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC (bản được khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi) còn có trường hợp mua đất, đá, cát, sỏi của hộ gia đình, cá nhân tự khai thác trực tiếp bán ra. Danh sách năm trường hợp của Nghị định 320/2025/NĐ-CP không còn dòng này. Doanh nghiệp xây dựng mua cát, đá lẻ vì vậy cần xét lại theo dòng thứ năm — nghĩa là phụ thuộc vào việc người bán có phải cá nhân, hộ kinh doanh dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng hay không.

Ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng đang là 01 tỷ đồng

Dòng cuối của bảng trên dẫn tới một con số nằm ở văn bản khác. Khoản 1 Điều 3 Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng; khoản 2 Điều 3 quy định mức doanh thu năm trên 01 tỷ đồng thì thuộc đối tượng chịu thuế. Con số ban đầu của Nghị định 68/2026/NĐ-CP là 500 triệu đồng, đã được khoản 1 Điều 1 Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa thành “01 tỷ đồng” tại Điều 3 và một loạt điều khác của Nghị định 68/2026/NĐ-CP.

Áp vào bảng năm trường hợp, con số này chỉ có tác dụng ở dòng thứ năm:

  • Dòng thứ năm: mua hàng hóa, dịch vụ của một hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng thì không còn thuộc trường hợp được lập bảng kê. Nhóm người bán này cũng đã thuộc diện phải dùng hóa đơn điện tử: theo điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định 68/2026/NĐ-CP (nội dung do khoản 2 Điều 1 Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung), hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
  • Bốn dòng đầu: không bị ngưỡng này chi phối. Một hộ đánh bắt ở Phú Mỹ dù doanh thu năm trên 01 tỷ đồng thì số cá họ trực tiếp đánh bắt và bán ra vẫn thuộc dòng thứ nhất, và doanh nghiệp vẫn lập bảng kê. Lưu ý thêm là quy định về hóa đơn điện tử nêu trên nhắm vào “hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh”, không phải mọi người bán. Nhưng nếu người bán ở bốn dòng đầu lại là một hộ kinh doanh đã đăng ký và có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng, thì họ thuộc diện buộc dùng hóa đơn điện tử — khi đó nên lấy hóa đơn, vì điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP vẫn đặt điều kiện “khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật”. Bảng kê là phương án cho trường hợp người bán không thuộc diện phải xuất hóa đơn.

Có một điểm các văn bản trên không quy định: doanh nghiệp mua hàng làm sao biết doanh thu năm của người bán ở dòng thứ năm. Thực tế chỉ còn cách yêu cầu người bán xác nhận và lưu lại thông tin đó cùng bảng kê. Nếu giao dịch lớn hoặc lặp lại nhiều lần với cùng một hộ, nên hỏi ý kiến người làm thuế trước khi hạch toán, vì rủi ro bị loại chi phí thuộc về doanh nghiệp mua.

Hồ sơ phải có: chứng từ chi trả và Bảng kê Mẫu 02/TNDN

Điểm a khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC liệt kê hồ sơ cho cả năm trường hợp gồm hai phần:

  1. Chứng từ chi trả tiền cho người bán theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ. Với trường hợp giá trị mua hàng hóa, dịch vụ trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 05 triệu đồng trở lên thì phải thanh toán không dùng tiền mặt.
  2. Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo Mẫu số 02/TNDN ban hành kèm Thông tư, do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm.

Mẫu số 02/TNDN có tên là “Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn”. Phần đầu ghi tên doanh nghiệp, mã số thuế, địa chỉ, số điện thoại và địa chỉ nơi tổ chức thu mua. Phần bảng ghi ngày tháng năm mua hàng; thông tin người bán gồm tên, địa chỉ, số căn cước, số điện thoại (nếu có); thông tin hàng hóa, dịch vụ mua vào gồm tên, số lượng hoặc trọng lượng, đơn giá, tổng giá thanh toán; và cột ghi chú. Cuối bảng là tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào, chữ ký người lập bảng kê và chữ ký, dấu của người đại diện hoặc người được ủy quyền.

Phần ghi chú của mẫu yêu cầu lập bảng kê theo thứ tự thời gian mua, ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tổng hợp bảng kê hàng tháng. Doanh nghiệp có tổ chức các trạm thu mua ở nhiều nơi thì từng trạm phải lập từng bảng kê riêng, sau đó doanh nghiệp lập bảng kê tổng hợp chung của các trạm.

Cột “số căn cước” đáng để lưu ý khi làm thực tế: bảng kê đòi định danh người bán. Thu mua của người không rõ danh tính thì không ghi đủ chỉ tiêu, và một bảng kê thiếu chỉ tiêu rất khó đứng được khi cơ quan thuế kiểm tra.

Về hình thức lưu, khoản 14 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC cho phép hồ sơ là bản chính, bản sao có chứng thực, bản sao có đóng dấu của doanh nghiệp, hoặc chứng từ điện tử theo quy định của pháp luật. Khoản 15 Điều 3 đặt nghĩa vụ lưu giữ và cung cấp đầy đủ hồ sơ liên quan đến các khoản chi để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán “và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Bản thân Thông tư 20/2026/TT-BTC không quy định phải nộp bảng kê kèm hồ sơ khai thuế — thành phần hồ sơ khai thuế do pháp luật về quản lý thuế quy định — nên trên thực tế bảng kê được lưu tại doanh nghiệp và xuất trình khi có yêu cầu.

Một ví dụ cho dễ hình dung

Một công ty chế biến ở Phú Mỹ trong tháng mua cá của ba hộ đi biển, các hộ này trực tiếp đánh bắt và bán ra:

  • Hộ A: một chuyến 7,2 triệu đồng. Trong ngày của hộ này đã từ 05 triệu đồng trở lên, nên phải chuyển khoản. Trả tiền mặt là khoản chi bị loại.
  • Hộ B: hai lần trong cùng một ngày, 2,8 triệu và 3,1 triệu, tổng 5,9 triệu đồng. Vẫn thuộc diện phải thanh toán không dùng tiền mặt, vì điều kiện tính theo giá trị mua trong ngày của từng hộ, không tính theo từng lần.
  • Hộ C: một lần 4,3 triệu đồng, trả tiền mặt. Khoản này được trừ nếu có chứng từ chi trả tiền theo quy định về kế toán và được ghi vào Bảng kê Mẫu 02/TNDN.

Cả ba hộ đều phải vào bảng kê, kể cả hộ đã chuyển khoản. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt không thay cho bảng kê; điểm a khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC yêu cầu cả hai thành phần.

Ba trường hợp hay bị gộp lẫn vào nhóm “không có hóa đơn”

Nhân viên ứng tiền mua hộ

Điểm c2 khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP và điểm b khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC xử lý trường hợp doanh nghiệp ủy quyền hoặc giao cho người lao động trực tiếp mua hộ hàng hóa, dịch vụ từ 05 triệu đồng trở lên và người lao động thanh toán bằng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Hồ sơ gồm hóa đơn, chứng từ theo quy định; quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc quyết định của doanh nghiệp về việc ủy quyền; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của người lao động khi mua; và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp khi thanh toán lại cho người lao động. Lưu ý đây là trường hợp có hóa đơn, vướng ở khâu ai trả tiền, không phải trường hợp thay hóa đơn bằng bảng kê.

Mua từ 05 triệu đồng mà chưa thanh toán

Điểm c3 khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP cho phép tính vào chi phí được trừ khi đến thời điểm ghi nhận chi phí doanh nghiệp chưa thanh toán. Điểm c khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC yêu cầu hồ sơ gồm hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ, biên bản bàn giao hàng hóa, dịch vụ, và khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu đến lúc thanh toán lại trả bằng tiền mặt thì theo điểm c3 nêu trên, doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt, “kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh khoản chi phí này”.

Thuê tài sản của cá nhân

Điểm d khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC quy định riêng: trường hợp doanh nghiệp thuê tài sản của cá nhân thì hồ sơ để xác định chi phí được trừ là hợp đồng thuê tài sản và chứng từ trả tiền thuê tài sản. Thuê nhà, kho, xe của cá nhân vì vậy không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có xuất được hóa đơn hay không. Nhưng điều kiện chung tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP vẫn áp cho “các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên”, nên tiền thuê kho mỗi lần từ 05 triệu đồng thì đừng trả bằng tiền mặt.

Điểm d còn một đoạn rất hay gặp trong thực tế: nếu hợp đồng thuê tài sản có thỏa thuận tiền thuê chưa bao gồm thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân) và doanh nghiệp phải nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ cả phần thuế nộp thay cho cá nhân đó, nếu có chứng từ nộp thuế.

Những khoản thiếu hóa đơn, chứng từ thì bị loại

Điểm a khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 xếp vào nhóm không được trừ mọi khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 1. Điểm h cùng khoản liệt kê riêng tiền lương, tiền công và các khoản hạch toán chi khác để chi trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định. Điểm a khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP nhắc lại: chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động đã hạch toán vào chi phí trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định thì không được trừ.

Với các khoản quen tay như tiếp khách, xăng xe, cước vận chuyển lẻ, cách xét không nằm ở tên khoản chi mà ở người bán. Mua của một doanh nghiệp, hoặc của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng, thì phải có hóa đơn, không lập bảng kê thay được — mua xăng ở cây xăng của doanh nghiệp là ví dụ rõ nhất. Cũng lưu ý mốc cũ ở điểm c khoản 1 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC ghi rõ 20 triệu đồng là “giá đã bao gồm thuế GTGT”, còn điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP không nêu cách tính này. Ngược lại, thuê một cá nhân chở hàng hay mua dịch vụ của hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống thì vẫn thuộc dòng thứ năm của bảng trên, lập bảng kê được, miễn ghi đủ chỉ tiêu định danh người bán. Còn chi thật mà không có hóa đơn, không có chứng từ chi trả, không có bảng kê thì vẫn là chi phí bị loại khi quyết toán.

Câu hỏi thường gặp

Mẫu bảng kê cũ còn dùng được không?

Không, trừ phần chuyển tiếp của kỳ tính thuế năm 2025. Khoản 6 Điều 10 Thông tư 20/2026/TT-BTC thay thế toàn bộ Thông tư 78/2014/TT-BTC và Thông tư 96/2015/TT-BTC. Mẫu bị thay là Mẫu số 01/TNDN ban hành kèm Thông tư 78/2014/TT-BTC, được dẫn tại điểm 2.4 khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC, bản do khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi; mẫu đang có hiệu lực là Mẫu số 02/TNDN kèm Thông tư 20/2026/TT-BTC. Phần chuyển tiếp nằm ở khoản 2 Điều 10: với các khoản chi phát sinh trước ngày Thông tư có hiệu lực (12/3/2026) mà Thông tư 96/2015/TT-BTC đã quy định cụ thể về điều kiện, hồ sơ thì thực hiện theo Thông tư 96/2015/TT-BTC cho kỳ tính thuế năm 2025.

Mua hàng ngoài chợ không có hóa đơn, lập bảng kê được không?

Chỉ được nếu giao dịch rơi vào một trong năm trường hợp ở bảng trên và ghi được đủ chỉ tiêu của Mẫu số 02/TNDN, trong đó có tên, địa chỉ và số căn cước của người bán. Nếu người bán là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng thì phải lấy hóa đơn. Bốn nhóm đầu của bảng — nông, lâm, thủy sản của người trực tiếp sản xuất, đánh bắt; hàng thủ công; phế liệu của người trực tiếp thu nhặt; đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân — không bị điều kiện doanh thu này.

Trả tiền mặt 4 triệu đồng cho một hộ nông dân có bị loại chi phí không?

Không, nếu trong ngày tổng giá trị mua của chính hộ đó dưới 05 triệu đồng, có chứng từ chi trả tiền theo quy định về kế toán và giao dịch được ghi vào bảng kê. Từ 05 triệu đồng trở lên trong ngày của một hộ thì bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt.

Bảng kê có phải nộp cho cơ quan thuế hằng tháng không?

Thông tư 20/2026/TT-BTC không đặt ra nghĩa vụ nộp bảng kê kèm hồ sơ khai thuế. Nghĩa vụ tại khoản 15 Điều 3 là lưu giữ và cung cấp đầy đủ hồ sơ khi thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Phần ghi chú của Mẫu số 02/TNDN yêu cầu tổng hợp bảng kê hàng tháng, nên việc làm theo tháng là để hồ sơ đủ và khớp sổ sách, chứ không phải để nộp.

Chi phí không có hóa đơn là chỗ dễ mất tiền nhất khi quyết toán, vì sai ở đây không chỉ bị loại chi phí mà còn kéo theo tiền thuế và tiền chậm nộp. Nếu doanh nghiệp thường xuyên thu mua của hộ gia đình, cá nhân, nên dựng sẵn quy trình bảng kê và chứng từ chi trả ngay từ lúc mua. MP Consulting có thể rà soát hồ sơ chi phí và chuẩn bị quyết toán thuế cùng anh chị trước khi hồ sơ tới tay cơ quan thuế.

Bài viết cập nhật đến ngày 13/10/2026 và mang tính tham khảo chung. Quy định có thể thay đổi và mỗi doanh nghiệp có tình huống riêng — vui lòng đối chiếu văn bản gốc hoặc liên hệ MP Consultingđể được tư vấn cho trường hợp cụ thể. Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Quang Nguyên Đán, Giám đốc (CEO).

Liên hệ

Kết nối với MP Consulting

Hãy để lại thông tin, đội ngũ tư vấn của chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ làm việc.

Văn phòng giao dịch TP. Hồ Chí Minh (theo lịch hẹn)95-97 đường N2, Khu đô thị Global City, Phường Bình Trưng, TP. Hồ Chí Minh
Hotline / Zalo0899 777 272
Giờ làm việc
Thứ 2 – Thứ 6: 8:00 – 17:00
Thứ 7: 8:00 – 12:00

Yêu cầu tư vấn

Điền thông tin bên dưới để nhận tư vấn miễn phí.

Zalo