Kiểm kê hàng tồn kho cuối năm: biên bản và xử lý chênh lệch
Cuối tháng 12, kế toán in bảng tổng hợp tồn kho: 1.250 bao nguyên liệu. Thủ kho đếm thực tế trong kho được 1.231 bao. Lệch 19 bao. Việc khó không phải là đếm lại, mà là trả lời ba câu: ghi chênh lệch này vào đâu, ai ký biên bản, và để sang năm sau xử lý thì có được không.
Trả lời ngắn: kiểm kê cuối năm là việc bắt buộc với mọi đơn vị kế toán, và chênh lệch giữa số đếm thực tế với số trên sổ phải được xác định nguyên nhân rồi phản ánh vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính. Đây là điều luật, không phải thông lệ nghề. Bài này đi qua căn cứ pháp lý, bộ biên bản cần có theo chế độ kế toán hiện hành, và cách xử lý phần lệch.
Tóm tắt nhanh
- Đơn vị kế toán phải kiểm kê tài sản vào cuối kỳ kế toán năm — điểm a khoản 2 Điều 40 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 41/VBHN-VPQH ngày 16/3/2026).
- Sau kiểm kê phải lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê. Có chênh lệch thì phải xác định nguyên nhân và phản ánh số chênh lệch cùng kết quả xử lý vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính — khoản 3 Điều 40.
- Người lập và ký báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê chịu trách nhiệm về kết quả kiểm kê — khoản 4 Điều 40. Chữ ký trên biên bản không phải thủ tục cho đẹp hồ sơ.
- Với doanh nghiệp đang áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp (trước đây là Thông tư 200/2014/TT-BTC), từ năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026 chế độ áp dụng là Thông tư 99/2025/TT-BTC; tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo hướng dẫn riêng của Ngân hàng Nhà nước. Bộ mẫu chứng từ kho nằm ở Phụ lục I, trong đó Mẫu số 05-VT là Biên bản tổng hợp kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở ngoài công lập và các đơn vị kế toán khác được lựa chọn áp dụng Thông tư 99/2025/TT-BTC, nhưng phải áp dụng nhất quán tối thiểu trong một kỳ kế toán năm — khoản 3 Điều 31 Thông tư 99/2025/TT-BTC.
Kiểm kê cuối năm là việc bắt buộc
Nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ vẫn nghĩ kiểm kê là việc nội bộ, muốn làm thì làm. Không phải vậy. Điều 40 Luật Kế toán định nghĩa kiểm kê tài sản là việc cân, đong, đo, đếm số lượng; xác nhận và đánh giá chất lượng, giá trị của tài sản, nguồn vốn hiện có tại thời điểm kiểm kê để kiểm tra, đối chiếu với số liệu trong sổ kế toán. Nói cách khác, mục đích của kiểm kê là đối chiếu — đếm xong mà không đối chiếu với sổ thì chưa làm xong việc.
Khoản 2 Điều 40 liệt kê các trường hợp phải kiểm kê:
| Trường hợp | Căn cứ |
|---|---|
| Cuối kỳ kế toán năm | Điểm a khoản 2 Điều 40 |
| Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản hoặc bán, cho thuê | Điểm b |
| Đơn vị được chuyển đổi loại hình hoặc hình thức sở hữu | Điểm c |
| Xảy ra hỏa hoạn, lũ lụt và các thiệt hại bất thường khác | Điểm d |
| Đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền | Điểm đ |
| Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật | Điểm e |
Lưu ý Điều 40 nói về tài sản, không chỉ hàng tồn kho. Tiền mặt tại quỹ, công cụ dụng cụ, tài sản cố định đều nằm trong phạm vi. Hàng tồn kho chỉ là phần hay lệch nhất, nên thực tế đây là phần tốn thời gian nhất.
"Cuối kỳ kế toán năm" là ngày nào
Theo điểm a khoản 1 Điều 12 Luật Kế toán, kỳ kế toán năm là 12 tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Với phần lớn doanh nghiệp ở Phú Mỹ, mốc kiểm kê là 31/12.
Đơn vị kế toán có đặc thù về tổ chức, hoạt động thì theo cùng điểm a khoản 1 Điều 12, được chọn kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ đầu ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau, và phải thông báo cho cơ quan tài chính, cơ quan thuế. Nói cách khác, kỳ kế toán vẫn dài đúng 12 tháng và vẫn phải trùng mốc đầu quý — ví dụ 01/4 năm nay đến 31/3 năm sau. Nếu doanh nghiệp bạn là công ty con của một tập đoàn nước ngoài đóng sổ vào 31/3, mốc kiểm kê đi theo kỳ kế toán đã thông báo, không phải 31/12.
Năm 2026 làm theo chế độ kế toán nào
Đây là chỗ dễ sai nhất trong năm nay. Rất nhiều bài hướng dẫn kiểm kê trên mạng vẫn dẫn mẫu biên bản theo Thông tư 200/2014/TT-BTC. Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính đã thay thế Thông tư 200/2014/TT-BTC (trừ một số nội dung về kế toán cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nêu tại khoản 2 Điều 31 Thông tư 99) cùng Thông tư 75/2015/TT-BTC, Thông tư 53/2016/TT-BTC và Thông tư 195/2012/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026. Nghĩa là với năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026, bộ hồ sơ kiểm kê không còn căn cứ vào Thông tư 200 nữa. Theo cách hiểu từ phạm vi áp dụng đó, doanh nghiệp có năm tài chính lệch, bắt đầu trước mốc 01/01/2026 và chỉ kết thúc trong năm 2026, thì kỳ đang mở ấy chưa thuộc diện áp dụng Thông tư 99.
Thông tư 99/2025/TT-BTC cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở ngoài công lập và các đơn vị kế toán khác lựa chọn áp dụng Thông tư này. Khi đã chọn thì phải áp dụng nhất quán tối thiểu trong một kỳ kế toán năm, và khi thay đổi chế độ kế toán thì phải trình bày lại số liệu so sánh cùng giải trình trong thuyết minh báo cáo tài chính. Doanh nghiệp vừa và nhỏ không chọn Thông tư 99 thì tiếp tục theo chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thông tư 133/2016/TT-BTC cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung nó — Thông tư 133 còn hiệu lực, nhưng trước khi chốt bộ mẫu hãy kiểm tra lại văn bản đang áp dụng cho doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp siêu nhỏ có chế độ riêng, và ở đây có một mốc rất dễ nhầm. Thông tư 58/2026/TT-BTC ngày 25/5/2026 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, nhưng theo khoản 1 Điều 12 Thông tư này, nó chỉ áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ ngày hoặc sau ngày 01/7/2026. Doanh nghiệp siêu nhỏ có năm tài chính trùng năm dương lịch thì kỳ 01/01–31/12/2026 bắt đầu trước mốc đó. Nhưng khoản 2 cùng Điều 12 lại nói Thông tư 132/2018/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 58 có hiệu lực thi hành. Hai khoản này giao nhau giữa năm, và chúng tôi không tìm được hướng dẫn chính thức nào nói rõ kỳ 01/01–31/12/2026 phải đóng sổ theo chế độ nào. Đây là chỗ chưa rõ, nên doanh nghiệp siêu nhỏ hãy hỏi cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi chốt bộ mẫu kiểm kê. Theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 58, doanh nghiệp siêu nhỏ cũng được lựa chọn áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng phải áp dụng nhất quán trong một năm tài chính và việc thay đổi chế độ kế toán chỉ được thực hiện tại ngày bắt đầu kỳ kế toán năm tiếp theo.
Việc cần làm trước khi kiểm kê: xác định rõ doanh nghiệp mình đang áp dụng chế độ nào trong kỳ kế toán này, vì mẫu biểu và số hiệu tài khoản đi theo chế độ đó. Nếu năm 2026 là năm đầu chuyển từ Thông tư 133 sang Thông tư 99, hồ sơ kiểm kê và phần trình bày lại số liệu so sánh phải khớp nhau.
Trình tự kiểm kê trong thực tế
Luật không quy định chi tiết các bước đếm. Dưới đây là cách làm để kết quả kiểm kê dùng được cho mục đích của Điều 40 — tức là đối chiếu được với sổ và chịu được rà soát về sau.
Trước ngày kiểm kê
- Chốt chứng từ: nhập kho, xuất kho phát sinh đến hết ngày 31/12 phải được lập phiếu và ghi sổ. Ghi lại số phiếu nhập, phiếu xuất cuối cùng của năm vào biên bản để sau này truy được mốc.
- In bảng tổng hợp tồn kho theo từng mã, từng kho tại thời điểm chốt. Bản in này là số sổ để đối chiếu, nên in trước khi đếm và không sửa.
- Sắp xếp lại kho, dán nhãn mã hàng. Nghe nhỏ nhưng đây là việc quyết định kiểm kê mất một buổi hay ba ngày.
- Lập quyết định thành lập ban kiểm kê, ghi rõ thành phần. Thực tế nên có đủ ba vai: thủ kho, kế toán kho, và một người đại diện ban giám đốc hoặc bộ phận độc lập.
Trong lúc đếm
- Hạn chế nhập xuất trong thời gian đếm. Nếu buộc phải xuất hàng, để riêng khu vực và ghi chú rõ trong biên bản.
- Đếm trước, so sổ sau. Đưa bảng số sổ cho người đếm là cách nhanh nhất để có một biên bản khớp hoàn toàn nhưng vô nghĩa.
- Ghi cả tình trạng, không chỉ số lượng. Khoản 1 Điều 40 định nghĩa kiểm kê bao gồm cả việc xác nhận và đánh giá chất lượng, giá trị của tài sản, nên trên thực tế hàng hỏng, ẩm mốc, hết hạn, chậm luân chuyển nên được ghi nhận riêng.
Sau khi đếm
- Lập biên bản, đối chiếu từng mã, tính phần lệch theo số lượng và giá trị.
- Giải trình nguyên nhân từng khoản lệch. Thiếu do cân đong, do hao hụt tự nhiên, do mất mát, do nhập xuất ghi sai mã — mỗi nguyên nhân dẫn tới một cách xử lý khác nhau.
- Trình người có thẩm quyền quyết định xử lý, rồi ghi sổ. Với doanh nghiệp áp dụng Thông tư 99/2025/TT-BTC, phần hướng dẫn phương pháp và trách nhiệm ghi Mẫu số 05-VT (Biên bản tổng hợp kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá) tại Phụ lục I ghi rõ: nếu có chênh lệch phải trình giám đốc doanh nghiệp ghi rõ ý kiến giải quyết số chênh lệch này. Kết quả xử lý sau đó phải được phản ánh vào sổ kế toán theo khoản 3 Điều 40 Luật Kế toán.
Biên bản kiểm kê: dùng mẫu nào
Theo Điều 9 Thông tư 99/2025/TT-BTC, doanh nghiệp tham khảo để áp dụng biểu mẫu hệ thống chứng từ kế toán tại Phụ lục I của Thông tư. Nhóm chứng từ mang tên “II. Hàng tồn kho” trong Phụ lục I gồm bảy mẫu:
| Mẫu số | Tên chứng từ |
|---|---|
| 01-VT | Phiếu nhập kho |
| 02-VT | Phiếu xuất kho |
| 03-VT | Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá |
| 04-VT | Bảng kê chi tiết vật tư còn lại cuối kỳ |
| 05-VT | Biên bản tổng hợp kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá |
| 06-VT | Bảng kê mua hàng |
| 07-VT | Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ |
Tên các mẫu này có thay đổi so với bộ mẫu cũ, nên khi tải biểu mẫu về dùng, hãy đối chiếu đúng tên trong Phụ lục I Thông tư 99/2025/TT-BTC thay vì lấy lại file của năm trước.
Doanh nghiệp không bị khóa cứng vào mẫu in sẵn. Điều 9 cho phép thiết kế thêm hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý, với điều kiện biểu mẫu vẫn tuân thủ Điều 16 Luật Kế toán và phản ánh đầy đủ, kịp thời, trung thực, minh bạch, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu được tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp. Nhưng kèm theo đó là một nghĩa vụ: doanh nghiệp phải ban hành Quy chế hạch toán kế toán (hoặc tài liệu tương đương) về nội dung sửa đổi, nêu rõ sự cần thiết và trách nhiệm trước pháp luật. Nếu không sửa gì thì áp dụng hệ thống chứng từ tại Phụ lục I.
Về nội dung, khoản 1 Điều 16 Luật Kế toán yêu cầu chứng từ kế toán phải có tên và số hiệu chứng từ; ngày, tháng, năm lập; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân lập; nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ ghi bằng số, còn tổng số tiền của chứng từ dùng để thu, chi tiền thì ghi cả bằng số và bằng chữ; chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan. Biên bản kiểm kê chỉ ghi số lượng mà bỏ trống đơn giá, giá trị là biên bản còn thiếu. Nếu anh chị đối chiếu với một bản Luật Kế toán cũ sẽ thấy thêm điểm d về tên, địa chỉ của bên nhận chứng từ — điểm này đã được bãi bỏ, nên bản hợp nhất hiện hành không còn.
Về chữ ký, khoản 1 Điều 19 Luật Kế toán (nay có tên “Ký và xác nhận chứng từ kế toán”) yêu cầu chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh ghi trên chứng từ, ký bằng loại mực không phai; không được ký bằng mực màu đỏ hoặc đóng dấu chữ ký khắc sẵn; chữ ký của một người phải thống nhất. Thêm vào đó, khoản 4 Điều 40 Luật Kế toán nói người lập và ký báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm kê. Ký thay thủ kho cho nhanh là việc nên tránh, không chỉ vì hồ sơ.
Xử lý chênh lệch trước khi lập báo cáo tài chính
Phần này là lý do kiểm kê phải làm sớm, đừng để đến lúc chuẩn bị nộp báo cáo. Khoản 3 Điều 40 Luật Kế toán gồm hai câu: "Sau khi kiểm kê tài sản, đơn vị kế toán phải lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê." Và: trường hợp có chênh lệch giữa số liệu thực tế kiểm kê với số liệu ghi trên sổ kế toán, đơn vị kế toán phải xác định nguyên nhân và phải phản ánh số chênh lệch, kết quả xử lý vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính.
Ba việc, và thứ tự không đổi được:
- Lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê.
- Xác định nguyên nhân chênh lệch.
- Phản ánh số chênh lệch và kết quả xử lý vào sổ kế toán, trước khi lập báo cáo tài chính.
Thực tế hay gặp tình huống đếm xong, biết thiếu 19 bao, nhưng chưa tìm ra vì sao và chưa có quyết định xử lý của giám đốc. Trường hợp này chế độ kế toán có tài khoản riêng để theo dõi tài sản thiếu, tài sản thừa đang chờ xử lý, nên phần lệch vẫn được đưa vào sổ dưới dạng chờ xử lý chứ không để ngoài sổ. Doanh nghiệp áp dụng Thông tư 99/2025/TT-BTC tra số hiệu tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán tại Phụ lục II của Thông tư này; doanh nghiệp còn theo chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa thì tra trong hệ thống tài khoản của chính chế độ đó, vì cách đánh số phụ lục của hai văn bản không giống nhau.
Một điểm mới cần biết: Điều 11 Thông tư 99/2025/TT-BTC cho phép doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung về tên, số hiệu, kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản kế toán để phù hợp đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, nhưng kèm một loạt điều kiện — trong đó vẫn phải phân loại và hệ thống hóa được nghiệp vụ theo nội dung kinh tế, không trùng lặp đối tượng, và không làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến chỉ tiêu, thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. Trước khi sửa, nên đọc trọn Điều 11 chứ không chỉ mấy điều kiện vừa nêu. Việc sửa đổi này cũng phải được ghi trong Quy chế hạch toán kế toán của doanh nghiệp. Vì vậy, khi hạch toán phần lệch, hãy mở Quy chế và hệ thống tài khoản của chính doanh nghiệp ra xem, đừng lấy số hiệu trong một bài hướng dẫn trên mạng.
Còn một việc nữa thường bị gộp vào: khoản tổn thất hàng tồn kho sau kiểm kê có được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp hay không là chuyện của pháp luật thuế, nằm ngoài phạm vi Điều 40 và nằm ngoài bài này. Hai hệ thống quy định khác nhau, hồ sơ cần cho mỗi bên cũng khác. Nếu khoản lệch lớn, nên hỏi trước khi quyết định hạch toán, vì sửa sau quyết toán tốn hơn nhiều.
Ba chỗ hay sai
Kiểm kê xong rồi để đó. Có biên bản, có số lệch, nhưng không ai quyết định xử lý và sổ kế toán vẫn giữ số cũ. Báo cáo tài chính khi đó lập trên số liệu đã biết là sai, trái với yêu cầu tại khoản 3 Điều 40.
Biên bản ký sau, ký thay. Biên bản làm trước, hôm sau mới đi lấy chữ ký, có chỗ ký giúp. Chữ ký trên biên bản gắn với trách nhiệm về kết quả kiểm kê theo khoản 4 Điều 40, nên đây không phải thủ tục hình thức.
Dùng lại bộ mẫu năm trước mà không xem mình thuộc chế độ nào. Doanh nghiệp trước đây áp dụng Thông tư 200, với năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026, nay lấy mẫu theo Phụ lục I Thông tư 99/2025/TT-BTC, và tên một số mẫu chứng từ kho đã khác. Doanh nghiệp nhỏ và vừa không chọn Thông tư 99 thì vẫn lấy mẫu theo Thông tư 133/2016/TT-BTC, còn doanh nghiệp siêu nhỏ phải xem năm tài chính của mình bắt đầu trước hay từ ngày 01/7/2026 để biết kỳ này thuộc chế độ nào. Và trong nhánh nào thì việc tự sửa mẫu cũng có điều kiện riêng của chế độ đó, nên phải mở chính văn bản mình áp dụng ra đọc; với Thông tư 99 thì điều kiện là Quy chế hạch toán kế toán theo Điều 9 như trên.
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp không có hàng tồn kho thì có phải kiểm kê không?
Điều 40 Luật Kế toán yêu cầu kiểm kê tài sản, không riêng hàng tồn kho. Doanh nghiệp dịch vụ không có kho hàng vẫn có tiền mặt tại quỹ, công cụ dụng cụ, tài sản cố định — những khoản này vẫn thuộc phạm vi phải kiểm kê vào cuối kỳ kế toán năm.
Có bắt buộc kiểm kê đúng ngày 31/12 không?
Luật nói kiểm kê vào cuối kỳ kế toán năm nhưng không ấn định phải đếm đúng ngày 31/12. Thực tế nhiều doanh nghiệp đếm trong vài ngày cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1, rồi cộng trừ các phát sinh nhập xuất giữa ngày đếm và ngày chốt kỳ để quy về số liệu tại thời điểm cuối kỳ. Đây là cách làm của nghề, không phải thủ tục được văn bản nào quy định, nên nó chỉ đứng được nếu toàn bộ chứng từ nhập xuất trong khoảng đó đầy đủ, được ghi rõ trong biên bản, và kết quả vẫn phản ánh đúng thực tế tài sản như khoản 4 Điều 40 yêu cầu. Nếu kho biến động nhiều, nên đếm càng gần ngày chốt càng tốt.
Kiểm kê một lần cuối năm có đủ không?
Đủ về mặt nghĩa vụ theo điểm a khoản 2 Điều 40, với điều kiện trong năm không phát sinh trường hợp nào tại các điểm b đến e của khoản này — đơn vị bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản hoặc bán, cho thuê; chuyển đổi loại hình hoặc hình thức sở hữu; hỏa hoạn, lũ lụt và thiệt hại bất thường khác; đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hay các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Nhưng doanh nghiệp sản xuất hoặc thương mại có vòng quay kho nhanh thường kiểm kê theo tháng hoặc quý, vì để dồn một năm thì khoản lệch thành quá lớn để tìm ra nguyên nhân — mà xác định nguyên nhân lại là yêu cầu của khoản 3 Điều 40.
Thuê bên ngoài kiểm kê được không?
Được, và với kho lớn thì có một bên độc lập đếm cùng là cách giảm tranh chấp giữa thủ kho và kế toán. Nhưng trách nhiệm pháp lý không chuyển đi đâu: người lập và ký báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê vẫn chịu trách nhiệm về kết quả theo khoản 4 Điều 40, và việc ghi sổ vẫn là của đơn vị kế toán.
Cần làm gì tiếp
Nếu đến giờ doanh nghiệp bạn chưa chốt lịch kiểm kê cho kỳ kế toán năm nay, việc nên làm trong tuần này là xác định chế độ kế toán đang áp dụng, lấy đúng bộ mẫu của chế độ đó — Phụ lục I Thông tư 99/2025/TT-BTC, hoặc Thông tư 133/2016/TT-BTC với doanh nghiệp nhỏ và vừa còn theo chế độ cũ, hoặc chế độ dành cho doanh nghiệp siêu nhỏ ứng với năm tài chính của kỳ đang mở — và đặt lịch đếm sớm để còn thời gian giải trình phần lệch trước khi lập báo cáo tài chính. MP Consulting nhận kiểm kê hàng hóa, tồn kho định kỳ cho doanh nghiệp tại Phú Mỹ, cụm cảng Cái Mép – Thị Vải, các khu vực khác của TP.HCM và tỉnh Đồng Nai, làm cùng kế toán và thủ kho từ bước chốt chứng từ tới biên bản và bút toán xử lý chênh lệch. Chi phí tùy khối lượng kho, anh chị xem bảng giá dịch vụ hoặc gọi để nghe tư vấn trước.
Bài viết cập nhật đến ngày 22/10/2026 và mang tính tham khảo chung. Quy định có thể thay đổi và mỗi doanh nghiệp có tình huống riêng — vui lòng đối chiếu văn bản gốc hoặc liên hệ MP Consultingđể được tư vấn cho trường hợp cụ thể. Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Quang Nguyên Đán, Giám đốc (CEO).
