Mức phạt chậm đóng, trốn đóng BHXH từ 10/9/2026
Một công ty ở Phú Mỹ nhận 8 người vào làm giữa tháng 8/2026, đến tháng 10 mới nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội. Trước đây câu hỏi chỉ là “bị phạt bao nhiêu”. Từ ngày 10/9/2026, câu hỏi đầu tiên là: hành vi đó bị xếp vào chậm đóng hay trốn đóng — vì hai nhóm này nay nằm ở hai điều khác nhau, với mức phạt khác nhau.
Tóm tắt nhanh
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 có hiệu lực từ 10/9/2026 và làm Nghị định 12/2022/NĐ-CP hết hiệu lực (khoản 1, khoản 4 Điều 66).
- Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nằm ở Điều 43, trốn đóng nằm ở Điều 44; bảo hiểm thất nghiệp có hai điều riêng là Điều 45 và Điều 46.
- Với các điều khoản nói ở bài này, số tiền ghi trong Nghị định là mức phạt đối với cá nhân và doanh nghiệp bị phạt gấp 02 lần; hộ kinh doanh bị phạt như cá nhân (khoản 1 và khoản 3 Điều 7). Khoản 1 Điều 7 có một danh sách điều khoản ngoại lệ mà số tiền ghi trong Nghị định lại là mức đối với tổ chức, cần tra trước khi áp dụng cho một điều khác.
- Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn bị buộc đóng đủ số tiền và nộp thêm 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng (khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44).
- Ranh giới giữa chậm và trốn nằm ở mốc 60 ngày và việc đã bị cơ quan có thẩm quyền đôn đốc hay chưa, theo Điều 38 và Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
Nghị định 283/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP
Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Khoản 1 Điều 66 ấn định hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 9 năm 2026. Khoản 4 Điều 66 nêu rõ Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2022 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực. Nghĩa là mọi bảng mức phạt lao động – bảo hiểm xã hội mà kế toán còn lưu theo Nghị định 12/2022 đều đã hết dùng.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 66 cho một số quy định về thẩm quyền xử phạt và về người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực theo mốc riêng, gắn với hiệu lực của các nghị định được dẫn chiếu. Các điều về đóng bảo hiểm xã hội mà bài này nói tới không thuộc hai nhóm đó, nên áp dụng từ 10/9/2026.
Điều 67 quy định chuyển tiếp theo hai hướng cần phân biệt:
- Hành vi xảy ra và kết thúc trước ngày 10/9/2026, bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết sau ngày đó: áp dụng nghị định xử phạt có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi (khoản 1 Điều 67).
- Hành vi xảy ra trước ngày 10/9/2026 nhưng vẫn đang diễn ra: áp dụng Nghị định 283/2026/NĐ-CP (khoản 2 Điều 67).
Khoản chuyển tiếp thứ hai quan trọng với doanh nghiệp đang nợ tiền bảo hiểm xã hội: khoản nợ còn treo đến sau ngày 10/9/2026 là hành vi đang diễn ra, nên bị xử lý theo quy định mới. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về lao động, bảo hiểm xã hội là 01 năm (điểm a khoản 4 Điều 3).
Chậm đóng hay trốn đóng: hai mốc thời hạn quyết định
Nghị định 283 không tự định nghĩa hai hành vi này mà dẫn về Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15. Vì vậy trước khi đọc mức phạt, cần nắm hai thời hạn gốc:
- 30 ngày kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người sử dụng lao động phải kê khai và nộp hồ sơ tham gia cho cơ quan bảo hiểm xã hội (khoản 1 Điều 28).
- Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo với phương thức đóng hằng tháng; là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần (khoản 4 Điều 34).
Trên nền hai mốc đó, Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội xếp vào chậm đóng các trường hợp: chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ đã đăng ký kể từ sau ngày đóng chậm nhất, trừ trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 39 (khoản 1); không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn 30 ngày nói trên (khoản 2); trường hợp tương ứng của bảo hiểm thất nghiệp (khoản 3); và các trường hợp không bị coi là trốn đóng theo khoản 2 Điều 39 (khoản 4).
Điều 39 khoản 1 xếp vào trốn đóng các trường hợp nặng hơn, trong đó ba trường hợp doanh nghiệp nhỏ hay gặp: sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký mà vẫn không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người; đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31; không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo Điều 35.
Khoản 2 Điều 39 giao Chính phủ quy định những trường hợp thuộc khoản 1 nhưng có lý do chính đáng thì không bị coi là trốn đóng. Nội dung này nằm tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 (hiệu lực từ 30/11/2025), gồm bốn lý do, và phải theo công bố của cơ quan có thẩm quyền: thiên tai (bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác) ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; dịch bệnh nguy hiểm được công bố; tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; và các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự. Khó khăn dòng tiền thông thường không nằm trong danh sách này.
Mức phạt khi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 43)
Điều 43 chia làm ba nhóm chế tài. Thứ nhất, cảnh cáo đối với các hành vi tại khoản 3 khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng (khoản 1).
Thứ hai, phạt theo số người lao động bị vi phạm, áp dụng khi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội, hoặc sau 60 ngày nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng (khoản 2). Cột bên phải trong bảng dưới đây là mức áp dụng cho doanh nghiệp, suy ra từ khoản 1 Điều 7: mức tiền ghi trong Nghị định là mức đối với cá nhân, mức đối với tổ chức bằng 02 lần mức đối với cá nhân, và Điều 43 không nằm trong danh sách ngoại lệ của khoản 1 Điều 7.
| Số người lao động bị vi phạm | Cá nhân, hộ kinh doanh | Doanh nghiệp (gấp 02 lần) |
|---|---|---|
| Dưới 10 người | 5 – 10 triệu đồng | 10 – 20 triệu đồng |
| Từ 10 đến dưới 50 người | 10 – 15 triệu đồng | 20 – 30 triệu đồng |
| Từ 50 đến dưới 100 người | 15 – 20 triệu đồng | 30 – 40 triệu đồng |
| Từ 100 đến dưới 300 người | 20 – 30 triệu đồng | 40 – 60 triệu đồng |
| Từ 300 đến dưới 500 người | 30 – 40 triệu đồng | 60 – 80 triệu đồng |
| Từ 500 đến dưới 700 người | 40 – 50 triệu đồng | 80 – 100 triệu đồng |
| Từ 700 đến dưới 1.000 người | 50 – 60 triệu đồng | 100 – 120 triệu đồng |
| Từ 1.000 người trở lên | 60 – 75 triệu đồng | 120 – 150 triệu đồng |
Thứ ba, phạt theo tỷ lệ trên số tiền chậm đóng: từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng (khoản 3). Nhóm này áp dụng cho hai hành vi: chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ đã đăng ký kể từ sau ngày đóng chậm nhất, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội (điểm a); và không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất, đã bị đôn đốc nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng (điểm b).
Con số 75.000.000 đồng ở khoản 3 là mức tối đa đối với cá nhân. Vì khoản 1 Điều 7 quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức đối với cá nhân và Điều 43 không thuộc danh sách ngoại lệ, trần của khoản phạt theo tỷ lệ này đối với doanh nghiệp là 150.000.000 đồng — cùng cách tính đã dùng cho cột doanh nghiệp trong bảng trên. Khi số tiền chậm đóng lớn, nên đối chiếu lại con số trong biên bản với cơ quan lập biên bản trước khi nộp.
Biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản 4: buộc lập hồ sơ đăng ký hoặc đăng ký đầy đủ số người tham gia, đóng đủ số tiền chậm đóng và nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Khoản tiền 0,03%/ngày này không phải tiền phạt, mà là nghĩa vụ riêng, cũng đã được nêu tại khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội.
Mức phạt khi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 44)
Điều 44 có cấu trúc tương tự nhưng nặng hơn ở cả hai nhóm. Phạt theo số người (khoản 1) áp dụng cho hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội:
| Số người lao động bị vi phạm | Cá nhân, hộ kinh doanh | Doanh nghiệp (gấp 02 lần) |
|---|---|---|
| Dưới 10 người | 6 – 12 triệu đồng | 12 – 24 triệu đồng |
| Từ 10 đến dưới 50 người | 12 – 20 triệu đồng | 24 – 40 triệu đồng |
| Từ 50 đến dưới 100 người | 20 – 30 triệu đồng | 40 – 60 triệu đồng |
| Từ 100 đến dưới 300 người | 30 – 40 triệu đồng | 60 – 80 triệu đồng |
| Từ 300 đến dưới 500 người | 40 – 50 triệu đồng | 80 – 100 triệu đồng |
| Từ 500 đến dưới 700 người | 50 – 60 triệu đồng | 100 – 120 triệu đồng |
| Từ 700 đến dưới 1.000 người | 60 – 70 triệu đồng | 120 – 140 triệu đồng |
| Từ 1.000 người trở lên | 70 – 75 triệu đồng | 140 – 150 triệu đồng |
Phạt theo tỷ lệ (khoản 2): từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, tối đa không quá 75.000.000 đồng, áp dụng cho hai hành vi: đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội; và không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất, đã được đôn đốc theo Điều 35, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cụm “chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” nằm ở điểm b khoản 2 Điều 44 và là điểm phải đọc kỹ: với riêng hành vi đó, xử phạt hành chính chỉ là nhánh nhẹ hơn. Khoản 2 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội nêu hành vi trốn đóng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản 3 Điều 44 cũng gồm đóng đủ số tiền trốn đóng và nộp 0,03%/ngày.
Cần nói rõ: việc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội được xếp vào trốn đóng từ điểm c khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, tức đã có từ ngày 01/7/2025; Nghị định 283/2026/NĐ-CP chỉ bổ sung khung phạt riêng cho hành vi này. Ngoại lệ duy nhất là các lý do tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP nói ở trên.
Bảo hiểm thất nghiệp bị xử phạt theo điều riêng
Chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp nằm ở Điều 45, trốn đóng ở Điều 46, với mức tiền theo số người thấp hơn đáng kể so với bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khung tiền theo số người tại khoản 2 Điều 45 chỉ áp dụng cho hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp (trong thời hạn 60 ngày, hoặc sau 60 ngày nhưng không bị coi là trốn đóng): từ 500.000 đồng đến 2.500.000 đồng khi vi phạm dưới 10 người lao động, và từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng khi vi phạm từ 1.000 người trở lên (mức đối với cá nhân). Chậm tiền bảo hiểm thất nghiệp thì bị phạt theo tỷ lệ tại khoản 3 Điều 45, không áp khung này. Theo khoản 1 Điều 46, trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng khi vi phạm dưới 10 người lao động, và từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng khi vi phạm từ 1.000 người trở lên. Mức phạt theo tỷ lệ giữ nguyên logic của bảo hiểm xã hội bắt buộc: 12% – 15% số tiền chậm đóng (khoản 3 Điều 45) và 18% – 20% số tiền trốn đóng (khoản 2 Điều 46), đều tối đa 75.000.000 đồng.
Khoản 4 Điều 7 có một quy định dễ bỏ sót: nếu người sử dụng lao động thực hiện từng hành vi quy định tại khoản 1 Điều 42 (kinh phí công đoàn) và các Điều 43, 44, 45, 46 ở các thời điểm khác nhau mà những hành vi này chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu, thì chỉ bị xử phạt về một hành vi vi phạm, đồng thời bị áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần.
Một khoản phạt riêng về đăng ký thông tin lao động (Điều 12)
Điều 12 là nội dung mới mà nhiều doanh nghiệp chưa để ý. Khoản 2 phạt người sử dụng lao động có hành vi không thực hiện đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho người lao động khi nộp hồ sơ đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội: từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 đến 50 người lao động; từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với từ 51 đến 100 người; từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với từ 101 người trở lên. Đây cũng là mức đối với cá nhân, nên với doanh nghiệp, khung trên cùng lên tới 40.000.000 đồng.
Khoản 1 Điều 12 phạt chính người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu không cung cấp thông tin, cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác để làm căn cứ đăng ký lao động. Khoản 3 buộc thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động.
Ví dụ tính một tình huống thường gặp
Giả định một công ty trách nhiệm hữu hạn đóng bảo hiểm xã hội theo phương thức hằng tháng, số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc của tháng 9/2026 là 24.000.000 đồng.
- Thời hạn đóng chậm nhất là 31/10/2026 — ngày cuối cùng của tháng tiếp theo, theo điểm a khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội.
- Đến ngày 20/11/2026 công ty vẫn chưa đóng: đây là chậm đóng theo khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội, vì chưa quá 60 ngày và chưa qua bước đôn đốc.
- Nếu bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 20/11/2026 với số tiền chậm đóng 24.000.000 đồng: mức phạt 12% – 15% tương ứng 2.880.000 – 3.600.000 đồng đối với cá nhân; với doanh nghiệp, theo khoản 1 Điều 7 thì gấp 02 lần, tức 5.760.000 – 7.200.000 đồng.
- Cộng thêm khoản 0,03%/ngày: 24.000.000 × 0,03% = 7.200 đồng mỗi ngày; 20 ngày chậm là 144.000 đồng, nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội.
- Nếu để quá 60 ngày kể từ 31/10/2026 và đã có văn bản đôn đốc của cơ quan có thẩm quyền mà vẫn không đóng, hành vi chuyển sang trốn đóng theo điểm đ khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội, mức phạt theo tỷ lệ tăng lên 18% – 20%.
Số ngày chậm đóng được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đăng ký tham gia và thời hạn đóng chậm nhất, theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 274/2025/NĐ-CP. Ví dụ trên chỉ minh họa cách tính; con số thực tế phụ thuộc số tiền và số ngày ghi trong biên bản.
Việc nên làm ngay
- Rà lại danh sách người mới vào làm từ tháng 7/2026 đến nay, đối chiếu với mốc 30 ngày tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội để biết ai còn thiếu hồ sơ.
- Kiểm tra tiền lương đang đăng ký làm căn cứ đóng có khớp với quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội hay không, vì sai ở đây bị xếp vào trốn đóng, không phải chậm đóng.
- Lưu lại mọi văn bản đôn đốc của cơ quan bảo hiểm xã hội và ngày nhận, vì đây là mốc chuyển nhóm hành vi.
- Nếu đang nợ tiền bảo hiểm xã hội, xử lý trước khi khoản nợ bước qua mốc 60 ngày, thay vì chờ bị lập biên bản.
- Thay bảng mức phạt cũ theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP trong hồ sơ nội bộ bằng các điều khoản của Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Câu hỏi thường gặp
Chậm vài ngày có bị phạt không?
Theo khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội, chậm đóng được tính từ sau ngày đóng chậm nhất, không có thời gian ân hạn. Nghị định 283 chỉ dành mức cảnh cáo cho trường hợp số tiền vi phạm tại thời điểm lập biên bản dưới 400.000 đồng (khoản 1 Điều 43). Ngoài ngưỡng đó, chế tài là phạt tiền theo tỷ lệ 12% – 15%.
Hộ kinh doanh có bị phạt như doanh nghiệp?
Không. Khoản 3 Điều 7 quy định hộ kinh doanh, hộ gia đình có hành vi vi phạm thì bị xử phạt như đối với cá nhân, tức áp dụng đúng con số ghi trong Nghị định mà không nhân hai.
Đã nộp đủ tiền trước khi bị lập biên bản thì còn bị phạt không?
Khoản 3 Điều 43 tính tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền chậm đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nên số tiền làm căn cứ phạt được chốt ở thời điểm đó. Nhưng Nghị định không có điều khoản nói rõ việc đã nộp đủ trước đó có loại bỏ hành vi vi phạm hay không, và thời hiệu xử phạt vẫn là 01 năm. Đây là điểm nên hỏi trực tiếp cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc người làm nghề trước khi kết luận.
Thiên tai làm công ty không đóng được, có bị coi là trốn đóng?
Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP liệt kê bốn lý do để một trường hợp thuộc khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội không bị coi là trốn đóng, trong đó có thiên tai và sự kiện bất khả kháng theo pháp luật dân sự, nhưng phải theo công bố của cơ quan có thẩm quyền. Khi đó hành vi được xếp về nhóm chậm đóng theo khoản 4 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội, chứ không phải được miễn hoàn toàn.
Thay đổi lớn nhất của Nghị định 283/2026/NĐ-CP không phải là con số, mà là việc tách chậm đóng và trốn đóng thành hai hành vi với hai mức chế tài, khiến thời điểm nộp hồ sơ và con số lương đăng ký trở thành việc phải làm đúng ngay từ tháng đầu. Nếu doanh nghiệp bạn chưa có ai theo sát các mốc này hằng tháng, phần việc lương – bảo hiểm có thể giao kèm trong dịch vụ kế toán trọn gói để không phải tự nhớ từng thời hạn.
Bài viết cập nhật đến ngày 02/10/2026 và mang tính tham khảo chung. Quy định có thể thay đổi và mỗi doanh nghiệp có tình huống riêng — vui lòng đối chiếu văn bản gốc hoặc liên hệ MP Consultingđể được tư vấn cho trường hợp cụ thể. Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Quang Nguyên Đán, Giám đốc (CEO).
